Nguyên nhân Viêm Ruột Thừa và Cơ chế bệnh viêm ruột thừa

Chủ nhật - 26/03/2017 10:23
Viêm ruột thừa | Nguyên nhân viêm ruột thừa cho ta biết cách phòng tránh viêm ruột thừa. Cơ chế bệnh sinh viêm ruột thừa và giải phẫu bệnh viêm ruột thừa

Viêm ruột thừa cấp
Viêm ruột thừa cấp

NGUYÊN NHÂN, GIẢI PHẪU BỆNH VÀ CƠ CHẾ BỆNH SINH VIÊM RUỘT THỪA


- Xem thêm: Chăm sóc bệnh nhân viêm ruột thừa Viêm ruột thừa HOT

A. NGUYÊN NHÂN VIÊM RUỘT THỪA
Nguyên nhân viêm ruột thừa có nhiều nguyên nhân khác nhau song chủ yếu do các nguyên nhân dưới đây gây nên viêm ruột thừa.
- Do phì đại các nang bạch huyết dưới niêm mạc, gặp trong 60% các trường hợp, trong nhiễm trùng ruột cũng như nhiễm trùng toàn thân.
- Kẹt sỏi do phân trong lòng ruột thừa, chiếm khoảng 35%
- Vật lạ 4% hạt nhỏ như hạt trái cây, hạt chanh, hạt ớt, hoặc kí sinh trùng đường ruột như giun kim...
- Do bướu thành ruột thừa, hay manh tràng đè vào (1%)
B. GIẢI PHẪU BỆNH HOC VIÊM RUỘT THỪA
Viêm ruột thừa thể xuất tiết (6 –12h đầu).
1) Ruột thừa:
Lớp thanh mạc mất bóng.
Mạch máu xung huyết giãn to trên thành ruột thừa.
Ruột thừa dài hơn bình thường.
Vi thể: ngấm các tế bào viêm ở thành ruột thừa nhưng không có áp xe.
2) Ổ bụng: Không có dịch hoặc chỉ có một ít dịch trong xuất tiết có vi khuẩn.
Viêm ruột thừa mủ:
2.1) Ruột thừa:
Sưng to, mọng, có dính giả mạc bao bọc đầu tù và dài.
Trong lòng ruột thừa có những ổ mủ thối, ổ loét nhỏ ở niêm mạc, lớp cơ bị phá huỷ, thanh mạc chưa vỡ.
2.2) Ổ bụng có dịch đục không thối, cấy không có vi khuẩn.
Đám quánh ruột thừa:
Trong trường hợp ruột thừa viêm chưa vỡ phản ứng các quai ruột, mạc nối lớn đến quây lại để khu trú ổ viêm, có nhiều mạch máu tân tạo xung quanh mang các tế bào, các chất chống viêm đến. 
Viêm ruột thừa hoại tử:
1) Ruột thừa:
Có màu cỏ úa, đen hoại tử từng mảng trên thanh mạc (hậu quả của tắc mạch).
Đã có lỗ thủng được giả mạc, mạc nối đến dính vào.
2) Ổ bụng: có nhiều dịch mủ thối, cấy có vi khuẩn.
Trong trường hợp mủ được khu trú lại bởi các tổ chức xung quanh gồm ruột, mạc nối, phúc mạc dính lại sẽ tạo thành áp xe ruột thừa.
Trong trường hợp mủ chảy và khu trú trong hố chậu phải, tiểu khung được gọi là viêm phúc mạc khu trú, nếu trường hợp ổ mủ chảy ra khắp ổ bụng được gọi là viêm phúc mạc toàn thể.
B. CƠ CHẾ BỆNH SINH:
Viêm ruột thừa chưa vỡ mủ:
- Viêm ruột thừa gây ra do nhiễm khuẩn trong lòng ruột thừa bị bít tắc. Sự quá sản tổ chức lympho ở thành ruột thừa là nguyên nhân chính gây bít tắc lòng ruột thừa. ngoài ra có thể gặp các nguyên nhân còn lại...
- Khi lòng ruột thừa bị bít tắc gây ứ đọng dịch tiết dẫn tới tăng áp lực trong lòng ruột thừa, ứ trệ tuần hoàn, vi khuẩn phát triển chuyển chất tiết thành mủ. giai đoạn đầu quá trình gây viêm, phù thành ruột thừa và có những ổ loét ở niêm mạc ruột thừa. 
- Có thể mô tả diễn biến như sau: vật tắc nghẽn ở gốc sẽ tạo sự tắc nghẹn trong 1 quai kín, trong khi sự bài tiết của niêm mạc ruột thừa vẫn tiếp tục làm cho ruột thừa căng ra. Thể tích lòng ruột thừa bình thường chỉ khoảng 0,1 ml. Nó không có một lòng ống thực sự. Sự tiết của niêm mạc RT chỉ khoảng 0,5 ml có thể làm cho áp lực lòng ruột thừa tăng lên đến 60 cm H2O. sự căng to của RT kích thích lên đầu mút dây tk hướng tâm mang cảm giác đau tạng, nó gây triệu chứng đau mơ hồ âm ỉ, lan tỏa ở giữa bụng hoặc phía dưới vùng thượng vị ( sẽ giải thích kĩ hơn ở dưới)
- Khi mổ thấy trong bụng có nước dịch tiết trong, vô khuẩn ở vùng hố chậu phải , ruột thừa sưng to mất bóng, các mạch máu giãn to trên thành ruột thừa --> viêm ruột thừa sung huyết.
- Nếu tiếp tục phát triển, quá trình viêm căng càng làm tăng áp lực dẫn tới ứ trệ tuần hoàn tĩnh mạch, thiếu máu nuôi dưỡng. NM đường tiêu hóa rất nhạy cảm với sự thiếu máu, rất dễ tổn thương hoại tử. Vi khuẩn dễ xâm nhập và phát triển ra thành ruột thừa. Sự căng dãn tiếp diễn sẽ ảnh hưởng đến áp lực tiểu động mạch. Vùng có nguồn cấp máu kém sẽ bị ảnh hưởng nhiều nhất, diện nhồi máu có hình bầu dục, xuất hiện ở bờ tự do.  Khi mổ trong ổ bụng có dịch đục, ruột thừa viêm mọng, có giả mạc xung quanh, trong lòng chứa mủ. Giai đoạn này là viêm ruột thừa mủ.
--> Triệu chứng cơ năng: đau bụng và chán ăn là triệu chứng luôn có mặt. Trong trường hợp điển
hình, BN trước tiên sẽ có cảm giác âm ỉ vùng bụng quanh rốn hay thượng vị, sau đó cơn đau sẽ di trú xuống ¼ bụng dưới phải. BN có thể sốt nhẹ. Nôn ói có thể xảy ra nhưng thường không đáng kể.
Khám lâm sàng: BN thường sốt nhẹ (thân nhiệt thường khoảng 38°C). Dấu hiệu thường gặp nhất khi khám bụng là ấn đau vùng ¼ dưới phải bụng. Nếu ruột thừa nằm ở vị trí thường gặp nhất của nó, BN sẽ đau nhiều nhất khi ấn bụng ở vị trí tương ứng với điểm Mc Burney. Dấu hiệu gồng cơ ở vùng này (đề kháng thành bụng) hay phản ứng dội, hay phản ứng thành bụng, nếu có, sẽ có giá trị cao trong chẩn đoán
Viêm ruột thừa hoại tử:
- Trong trường hợp khi mạch máu ruột thừa bị tắc do huyết khối nhiễm khuẩn yếm khí dẫn tới hoại tử ruột thừa, thấy trên ruột thừa có những nốt hoại tử hay toàn bộ ruột thừa có màu cỏ úa mủn nát.
Áp xe ruột thừa:
- Giai đoạn cuối cùng khi ruột thừa bị thủng dẫn tới mủ chảy ra ngoài. Nếu được khu trú lại bởi tổ chức xung quanh gồm ruột, mạc nối, phúc mạc dính lại sẽ tạo thành ổ áp xe ruột thừa.
--> BN bị đau bụng với các tính chất như đã mô tả trong phần trên. Sau 24 giờ, BN đau nhiều hơn nhưng vẫn khu trú ở ¼ dưới phải bụng. Sốt vừa hay sốt cao (thân nhiệt 39-40°C). 
Khám bụng:
bụng xẹp. Nếu thành bụng mỏng, có thể thấy một khối hơi gồ lên trên thành bụng vùng ¼ dưới phải. Một khối ấn rất đau luôn luôn sờ được ở vùng này.
viêm phúc mạc ruột thừa:
- Khi căng giãn, VK xâm nhập. suy giảm cung cấp máu và sự nhồi máu tiếp diễn sẽ gây thủng RT. thường là đi qua 1 trong những vùng nhồi máu ở bờ tự do của RT. Trong trường hợp ổ mủ chảy vào ổ phúc mạc tự do sẽ gây viêm phúc mạc toàn thể.
--> BN bị đau bụng với các tính chất như đã mô tả trong phần trên. Sau 24 giờ, BN đau nhiều hơn và lan rộng hơn.
BN thường sốt vừa hay sốt cao (thân nhiệt 39-40°C).
Khám bụng: bụng chướng hơi, có dấu hiệu gồng cơ và ấn đau vùng dưới rốn (viêm phúc mạc chậu) hay khắp bụng (viêm phúc mạc toàn thể)
Đám quánh ruột thừa:
- Một số trường hợp, ruột thừa viêm chưa vỡ, các tổ chức xung quanh đến tạo đám quánh ruột thừa.
--> BN bị đau bụng với các tính chất như đã mô tả trong phần trên. Sau 24 giờ, BN bớt đau hẳn.
Khám lâm sàng thấy BN không sốt, tuy nhiên khám bụng sờ thấy một khối chắc không đau ở vùng ¼ dưới phải

Tác giả bài viết: Thành Liêm

Đang Tải

Tổng số điểm của bài viết là: 10 trong 2 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 2 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây