Giải thích triệu chứng đau viêm ruột thừa theo thuyết thần kinh

Chủ nhật - 26/03/2017 10:30
Viêm ruột thừa | Chuyên đề viêm ruột thừa phần giải thích triệu chứng đau do viêm ruột thừa theo thuyết thần kinh.

viem ruot thua hoai tu
viem ruot thua hoai tu

Giải thích triệu chứng đau theo thuyết thần kinh

Câu hỏi: Tại sao trong viêm ruột thừa cấp triệu chứng đau lại xuất hiện ở vùng thượng vị và quanh rốn trước rồi mới lan xuống và khu trú ở hố chậu phải ?
Trả lời:
Phúc mạc và thần kinh chi phối cho phúc mạc:
Phúc mạc gồm:
– Lá tạng: Bao phủ các tạng trong khoang bụng
– Lá thành: Lót mặt trong của thành bụng, vùng chậu và dưới hoành
Thần kinh chi phối cảm giác cho 2 lá phúc mạc là:
+ Phúc mạc thành: Được chi phối bởi thần kinh thân thể T6-L1
+ Phúc mạc tạng: Được chi phối bởi thần kinh giao cảm T5-L3
Cảm giác đau và đặc điểm cảm nhận đau từ thần kinh giao cảm và thần kinh thân thể
Cảm giác đau do tổn thương bắt đầu từ một thụ thể đau nằm rải rác khắp cơ thể. Những thụ thể đau này sẽ truyền tín hiệu bằng xung động điện dọc theo các sợi thần kinh cảm giác hướng tâm qua sừng sau tủy sống rồi đi lên não bộ.
 Đặc điểm cảm nhận đau từ thần kinh giao cảm và thần kinh thân thể là khác nhau.
–Thần kinh giao cảm khi bị kích thích thường cho cảm giác đau mơ hồ, không định khu rõ rệt, trừ khi bị kích thích quá mạnh thì sẽ cho cảm giác đau rõ ràng.
=>  Cảm giác đau tạng: Cảm giác đau được truyền từ lá tạng của phúc mạc -> cảm giác đau mơ hồ. Bn ko thể xác định chính xác điểm đau.
Đau tạng xảy ra khi phúc mạc tạng bị kéo căng
–Thần kinh thân thể khi bị kích thích sẽ cho cảm giác đau khu trú hơn, rõ ràng hơn.
=> Cảm giác đau thành: Cảm giác đau được truyền từ lá thành của phúc mạc, cảm giác đau rõ ràng hơn. Bn chỉ ngón tay chính xác vào vị trí đau
Đau thành đồng nghĩa viêm phúc mạc và cần can thiệp ngoại khoa gấp
Đau quy chiếu
Là một biến thể đặc biệt của đau tạng
Đau quy chiếu tức là vị trí đau mà bệnh nhân cảm nhận được không trùng với vị trí giải phẫu của tổn thương.
Sự lẫn lộn về vị trí này là do Hai dây thần kinh cảm giác của 2 vị trí khác nhau cùng truyền dẫn tín hiệu thần kinh về cùng một tầng tủy sống hoặc 2 tầng tủy sống kề nhau.
Thần kinh cảm giác nào truyền về tín hiệu “mơ hồ” (cảm giác tạng) thì vỏ não sẽ “hiểu lầm” là tín hiệu được truyền từ một vùng khác (vùng quy chiếu)
Phần lớn đau tạng (Thần kinh giao cảm bị kích thích) => đều có vùng quy chiếu
Vd: Đau xuất phát từ dạ dày, tá tràng, gan, mật, tụy => cho cảm giác đau có vùng quy chiếu là vùng thượng vị.
Chú ý:
Thần kinh giao cảm bị kích thích quá mạnh (sỏi niệu quản) => Bệnh nhân cũng có thể có cảm giác đau rõ ràng và định khu rõ
Đau thành ở nơi mà sự phân bố thần kinh thân thể nghèo nàn => cũng có thể có vùng quy chiếu
Một cơn đau tạng có thể có 2 vùng đau quy chiếu
Ví dụ: Đau từ đường mật và túi mật => cảm giác đau ở thượng vị và đôi khi lan lên đỉnh xương bả vai phải
Cụ thể trong viêm ruột thừa cấp, bệnh nhân đau thượng vị trước, nhưng thật sự tại đó không có tổn thương..
Đầu tiên xuất phát điểm của viêm ruột thừa là do tắc nghẽn, khi bị tắc nghẽn thì thành ruột thừa bị căng ra và gây ra cảm giác đau tạng
=> Do thần kinh chi phối cảm giác đau tạng của ruột thừa và cảm giác đau thành của vùng thượng vị hay quanh rốn đều dẫn truyền về vỏ não qua một tầng tủy sống nên vỏ não sẽ hiểu nhầm là kích thích đau đến từ vùng thượng vị hay quanh rốn. 
Ruột thừa và ruột non có chung nguồn gốc là ruột giữa => do đó đau khởi đầu do hệ thần kinh tự động truyền về đám rối quanh rốn hay đám rối quanh thượng vị.
Giai đoạn sau, khi ruột thừa bị viêm càng nhiều
=> Trải qua 3 giai đoạn xung huyết, hoại tử , nung mủ
=> Tiết dịch rỉ viêm nhiều hơn làm lớp thanh mạc của nó sưng tấy lên và tiếp xúc với lá thành phúc mạc. Cảm giác đau của vùng đó sẽ chuyển sang đau thành nên bệnh nhân có cảm giác đau khu trú tại hố chậu phải.
Nếu diễn tiến tiếp tục => Ruột thừa sẽ vỡ mủ và gây ra các biến chứng nặng
Thuyết tăng áp lực cũng dựa vào sự tắc nghẽn trong lòng ruột thừa gây tăng áp lực kích thích gây đau theo cảm giác của dây thần kinh. 
Áp lực càng lớn thì mức độ đau của bệnh nhân càng tăng. Khi lòng ruột thừa bắt đầu tắc nghẽn ( do nang bạch huyết quá phát, sỏi phân..vv) thì dẫn tới áp lực lòng ruột thừa tăng dần do ứ đọng dịch và vk kị khí nhiễm khuẩn. Bệnh nhân bắt đầu đau tăng dần, khi ruột thừa nung mủ căng mọng cũng là lúc bệnh nhân đau nhất. Khi vỡ mủ bệnh nhân thấy bớt đau hơn do giải phóng áp lực lòng ruột thừa. Tuy nhiên không thể dùng thuyết này để giải thích ở bệnh nhân đau tăng dần tiến triển tới khi viêm phúc mạc mà không có giai đoạn giảm đau. Vì vậy thuyết này chưu thực sự thuyết phục.

Tác giả bài viết: Thành Liêm

Đang Tải

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây