Các phương pháp khám lâm sàng viêm ruột thừa

Chủ nhật - 26/03/2017 10:36
Viêm ruột thừa | Viêm ruột thừa phần các phương pháp khám lâm sàng viêm ruột thừa. Một số phương pháp khám lâm sàng giúp xác định được tình trạng bệnh rõ hơn

Mổ nội soi Viêm ruột thừa cấp
Mổ nội soi Viêm ruột thừa cấp

Các Phương Pháp Khám Lâm Sàng Viêm Ruột Thừa

1. Các phương pháp thăm khám lâm sàng VRT: 
Viêm ruột thừa(VRT) là một cấp cứu ngoại khoa thường gặp và được chẩn đoán chủ yếu dựa trên lâm sang dù y học ngày nay rất tiên tiến. Vì vậy quá trình thăm khám quyết định lớn tới chẩn đoán. 
Bệnh nhân thường tới với dấu hiệu cơ năng điển hình là đau bụng, chúng ta chưa thể biết bệnh nhân đến với chúng ta là đau bụng do VRT hay nguyên nhân gì nên cần thăm khám kĩ lưỡng với suy nghĩ khách quan.
** Hỏi bệnh
Hỏi bệnh là một khâu rất quan trọng nhằm khai thác đầy đủ các triệu chứng chủ quan và khách quan, diễn biến và tiến triển của bệnh trong thời gian trước khi bệnh nhân nhập viện, đặc biệt càng quan trọng hơn đối với những trường hợp nghi ngờ VRT.
+ Hành chính: quan tâm tới giới tính, tuổi của bệnh nhân 
VRT có thể xảy ra đối với bất cứ đối tượng nào nhưng thường gặp ở độ tuổi từ 10-30t
Đối với người già và người có miễn dịch suy giảm thì triệu chứng sẽ kém điển hình do cơ thể đã kém phản ứng lại với các tác nhân gây bệnh. 
Đối với trẻ em và phụ nữ có thai thì vị trí đau của ruột thừa nhiều trường hợp không điển hình ở hố chậu phải
+ Cơn đau: 
Vị trí: Hỏi bệnh nhân về vị trí đau hiện tại cũng như từ khi bắt đầu cơn đau có lan đi đâu hay khu trú lại? 
Vị trí đau có ý nghĩa về chẩn đoán sơ bộ VRT cũng có ý nghĩa trong chẩn đoán phân biệt với các cơn đau bụng khác nhưng không phải là yếu tố quyết định trong chẩn đoán xác định.
Thời gian:  Đã đau bao lâu tức là xem xét về thời gian cơn đau, có ý nghĩa trong tiên lượng về bệnh, nếu VRT đến sớm thường có tiên lượng tốt hơn là VRT đến muộn. Thường sau 48h đã có thể xuất hiện biến chứng.
Tính chất cơn đau: Cần hỏi từ khi bệnh nhân bắt đầu đau. Đau dữ dội hay âm ỉ? Đau liên tục hay đau cơn? Nếu đau cơn thì cơn kéo dài bao lâu và bao lâu thì có cơn tái diễn? 
Trong VRT thường đau âm ỉ, liên tục, tăng dần có khi trội thành cơn. Tùy thuộc vào thời gian bệnh nhân nhập viện mà tính chất cơn đau sẽ khác nhau. Tính chất cơn đau có ý nghĩa trong chẩn đoán phân biệt với một số cơn đau khác ví dụ như cơn đau do co thắt đại tràng là cơn đau dữ dội.
Tư thế chống đỡ cơn đau: Trong VRT bệnh nhân thường nằm co gập hai chân vào bụng để chống lại cơn đau nhưng ví dụ như trong viêm cơ thắt lưng chậu thì bệnh nhân thấy dễ chịu hơn khi nằm thẳng chân. 
Hướng đau: Trong VRT thì chỉ có giai đoạn đầu có đau quanh rốn và thượng vị sau đó khu trú lại vị trí của ruột thừa. Phân biệt với cơn đau sỏi niệu quản phải thường đau ở hạ sườn phải hoặc hố chậu phải lan dọc xuống dưới.
Hoàn cảnh xuất hiện: VRT thường không  có hoàn cảnh điển hình. 
Các dấu hiệu đi kèm:
Kèm theo đau, trong VRT có dấu hiệu toàn thân điển hình là sốt,  giai đoạn chưa có biến chứng sốt nhẹ, từ 37 độ 5 đến 38 độ5 không quá 39 độ, nếu có sốt cao trên 39 độ kéo dài thì nên xem xét đến biến chứng hoặc một số chẩn đoán khác .
Ngoài ra có chán ăn và nôn mửa, VRT hầu như luôn đi kèm theo chán ăn, khi bệnh nhân không có chán ăn thì cần xem xét lại chẩn đoán. Nôn mửa xảy ra với khoảng 75% bệnh nhân nhưng không phải là triệu chứng nổi bật, bệnh nhân thường nôn 1-2 lần.
Chuỗi xuất hiện triệu chứng có ý nghĩa quan trọng, trên 95% bệnh nhân VRT cấp thì chán ăn là triệu chứng đầu tiên, sau đó là đau bụng rồi đến nôn mửa (nếu có), nếu nôn mửa xảy ra trước khi đau thì cần xem lại chẩn đoán. 
** Thăm Khám
1. Thực thể
- Bụng mềm, không chướng (chưa có viêm phúc mạc)
-  ấn đau ở các điểm:
+ Điểm Mac Burney là điểm giữa đường nối gai chậu trước trên bên phải với rốn. 
+ Điểm Clado  là điểm nằm trên đường cắt giữa đường nối hai gai chậu trước trên và bờ ngoài cơ thẳng to bên phải.
+ Điểm Lanz: là điểm nối 1/3 bên ngoài phải với 2/3 bên trái của của đường nối 2 gai chậu trước trên.
 
Nguyen nhan trieu chung viem ruot thua

2. Các dấu hiệu phản ánh tình trạng phản ứng tại chỗ của màng bụng khi viêm ruột thừa cấp:
- Dấu hiệu phản ứng thành bụng ở thành bụng hố chậu phải.
- Dấu hiệu co cứng thành bụng vùng hố chậu phải thường là viêm ruột thừa giai đoạn muộn: khi có ý định ấn sau bàn tay trên thành bụng thì bệnh nhân kêu đau bàn tay cảm nhận sức căng của thành bụng, ấn sâu nữa có co cứng thực sự.
- Dấu hiệu Schotkin- Blumberg: Lấy ngón tay ấn từ từ thành bụng ở HCP xuống sâu càng tốt đến khi bắt đầu thấy đau, rồi đột nhiên bỏ tay ra nhanh. Bình thường người ta không cảm thấy đau, khi bị viêm phúc mạc thì bệnh nhân sẽ cảm thấy đau dữ dội. 
- Dấu hiệu Obrasov: Bệnh nhân nằm ngửa chân duỗi thẳng, thầy thuốc dùng bàn tay trái ấn nhẹ vùng hố chậu phải đến khi bệnh nhân bắt đầu thấy đau thì giữ nguyên tay ở vị trí đó, tay phải đỡ cẳng chân phải gấp đùi vào bụng. Nếu viêm ruột thừa thì bệnh nhân thấy đau tăng ở HCP 
- Dấu hiệu Siskovski: Bảo bệnh nhân nằm nghiêng sang bên trái bệnh nhân thấy đau ở HCP.
- Dấu hiệu Blumberg: Như DH Schotkin- Blumberg nhưng ở toàn ổ bụng  
- Dấu hiệu Rovsing: Khi sờ nắn bụng ở vị trí một phần tư dưới trái, bệnh nhân cảm thấy đau ở một phần tư dưới phải.        
3. Thăm trực tràng / thăm âm đạo ở 1 số phụ nữ: bệnh nhân đau ở thành phải trực tràng (hay ở thành phải túi cùng Douglas)

Tác giả bài viết: Thành Liêm

Đang Tải

Tổng số điểm của bài viết là: 15 trong 3 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 3 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây