Biện luận triệu chứng viêm ruột thừa và khám lâm sàng viêm ruột thừa

Chủ nhật - 26/03/2017 10:32
Viêm ruột thừa | Chuyên đề: Viêm ruột thừa phần biện luận triệu chứng và các phương pháp khám lâm sàng bệnh nhân viêm ruột thừa

Khám viêm ruột thừa
Khám viêm ruột thừa

Biện Luận Triệu Chứng và Các Phương Pháp Khám Lâm Sàng

1.1: Biện Luận Triệu Chứng:
- Viêm ruột thừa là một bệnh cấp cứu bụng Ngoại khoa thường gặp. Bệnh cảnh của VRT rất đa dạng và phong phú, chia làm nhiều giai đoạn mỗi giai đoạn lại có những triệu chứng đặc chưng.
+ Giai đoạn đầu:
Triệu chứng đầu tiên thường gặp trên bệnh nhân là một cơn đau
âm ỉ ở vùng thượng vị hay quanh rốn, liên tục tăng dần kéo dài khoảng từ 4-6h. Trong giai đoạn này tuy tổn thương nằm ở ruột thừa nhưng lại đau vùng thượng vị là do cơ chế đau quy chiếu. (Đau quy chiếu tức là vị trí đau mà bệnh nhân cảm nhận được không trùng với vị trí giải phẫu của tổn thương. Sự lẫn lộn về vị trí này là do hai dây thần kinh cảm giác của 2 vị trí khác nhau cùng truyền dẫn tín hiệu thần kinh về cùng một tầng tủy sống hoặc 2 tần tủy sống kề nhau. Đối với VRT xuất phát điểm của nó là tình trạng tắc nghẽ trong lòng ruột thừa, khi bị tắc nghẽ thì thành ruột thừa bị căng ra và gây cảm giác đau tạng. Nhưng do thần kinh chi phối cảm giác đau tạng của ruột thừa và cảm giác đau thành của vùng thượng vị hay quanh rốn đều dẫn truyền về một tầng tủy sống, nên vỏ não sẽ hiểu nhầm là kích thích đau đến từ vùng thượng vị hay quanh rốn.
Kèm theo đó bệnh nhân xuất hiện sốt, cơn sốt vừa hoặc nhẹ thường không quá 39OC. Nguyên nhân gây sốt ở viêm ruột thừa  giai đoạn này bao gồm: độc tố của vi khuẩn và khả năng phát tán của độc tố đó trong cơ thể, hệ thống hạch bạch huyết tại chỗ. Như ta đã biết các vi khuẩn trong đường tiêu hóa đa phần là Gram âm, khi lòng ruột thừa bị bít tắc các vi khuẩn này bắt đầu phát triển, khi chúng chết đi giải phóng ra nội độc tố, ở giai đoạn đầu số lượng vi khuẩn chết đi giải phóng nội độc tố ít. Bên cạnh đó mạch máu ruột thừa lại là mạch tận, không có các vòng nối chính vì thế khi các tuyến bạch huyết ở thành ruột thừa phát triển sẽ chèn ép vào mạch máu, làm giảm lượng độc tố đi vào máu => giảm phản ứng sốt. VRT chủ yếu gặp ở người trong độ tuổi từ 18-30, trong giai đoạn này hạch toàn thân phát triên, các hạch tại chỗ ít phát triển và có thể bắt đầu thoái triển => đáp ứng viêm tại chỗ trong giai đoạn đầu kém => sốt không quá 39OC.
Ngoài ra bệnh nhân còn có biểu hiện của rối loạn tiêu hóa như buồn nôn, nôn, đi ngoài phân lỏng. Như ta đã biết “Đám rối dương” (đám rối thượng vị)  chi phối thần kinh cho hệ thống ống tiêu hóa trong ổ bụng, bao gồm cả ruột thừa. Khi ruột thừa bị căng hoặc kích thích quá mức sẽ xuất hiện các xung kích thích đám rối dương. Từ đây các sóng kích thích theo đường đi của thần kinh X đến sàn não thất IV kích thích trung tâm nôn => buồn nôn, nôn. Trong một số trường hợp đám rối dương kích thích ngược lại đến các quai ruột => hội chứng ruột kích thích => tiêu chảy.

+ Giai đoạn sau:
Triệu chứng đau tăng dần và khu trú về HCP do lúc này dịch viêm trong lòng ruột thừa nhiều hơn làm thanh mạch ruột thừa sưng tấy lên, dịch viêm cũng xâm nhập vào ổ bụng và tiếp xúc với lá phúc mạc thành. Cảm giác đau giai đoạn này chủ yếu là do đau thành nên bệnh nhân có cảm giác đau khu trú tại vùng HCP.
Bệnh nhân bí trung đại tiện, trên lâm sàng thấy bụng chướng căng. Nguyên nhân là do dịch viêm trong lòng ruột thừa xâm nhập qua thành ruột thừa đi vào trong ổ bụng gây ra tình trạng liệt ruột cơ năng.
Sốt trong giai đoạn này vẫn là sốt nhẹ và vừa không quá 39OC.

+ Giai đoạn cuối: Ruột thừa vỡ
Đau khăp ổ bụng do dịch viêm tràn vào trong ổ bụng gây viêm phúc mạc toàn thể => đau toàn ổ bụng.
Sốt cao trên 39OC. Lúc này toàn bộ lượng lớn nội độc tố của vi khuẩn trong dịch viêm lan tràn trong ổ bụng, đi vào máu kích thích trung tâm điều nhiệt => sốt cao.
Bụng bệnh nhân lúc này chướng căng, bí trung đại tiện do tình trạng liệt ruột.

+ Ngoài ra còn một số trường hợp ruột thừa viêm năm ở vị trí đặc biệtsẽ có các triệu chứng khác như:
Ruột thừa nằm trong tiểu khung, bệnh nhân chỉ thấy cơn đau mơ hồ vùng hạ vị. Nguyên nhân là do bệnh nhân chỉ có cảm giác đau tạng, không hoặc ít có cảm giác đau thành vì sự phân bố của các thụ thể đau ở vị trí này ít.
Ruột thừa nằm sau manh tràng bệnh nhân cũng chỉ có cảm giác đau mơ hồ không khú trú nguyên nhân cũng là do cảm giác đau tạng là chủ yếu. Ruột thừa tuy căng to nhưng không tiếp xúc vào lá thành không gây kích thích lá thành.
Bệnh nhân đã có đau bụng khu trú vùng HCP nhưng sau đó lại đau thượng vị. Nguyên nhân là do áp lực của cơ hoành hút dịch viêm lên khoang dưới hoành gây cảm giác đau thượng vị.

Tác giả bài viết: Thành Liêm

Đang Tải

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây